Địa chỉ: Nguyễn Trãi, Thành phố Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị
Kỷ niệm trường cấp 3 Đông Hà thân yêu
Cập nhật 30/10/2015 Lượt xem 2502

Năm tháng và kỷ niệm Cấp ba Đông Hà thân yêu
                                                 Hồ Sỹ Anh
                                            HS khóa 1976-1979
 
Bất cứ ở đâu, thời điểm hay sự kiện nào, khi lời hát “Trường em, Trường Cấp ba Đông Hà, đứng giữa đồi cao lớp lớp mái tôn…” được cất lên thì tất cả chúng tôi – những thế hệ học sinh Cấp Ba Đông Hà đều thấy mình như trẻ lại, hòa đồng và lâng lâng nhớ lại những tháng ngày học tập, lao động dưới mái trường thân yêu này. Ngôi trường ngày ấy không lớn lắm, chỉ mấy dãy nhà tôn và 01 hội trường cũng khiêm tốn, nhưng nó được đứng chân trên đồi cao lộng gió và hiên ngang với những “ống thu lôi vươn thẳng lên nền trời xanh…”. Điều mà nhiều thế hệ học trò chúng tôi càng thấy tự hào khi truyền thống “Dạy tốt, học tốt”, “Chăm học, chăm làm, cầu tiến bộ” đã được thầy trò thế hệ đầu tiên gầy dựng đến nay tiếp tục đâm chồi, nẩy lộc, đơm hoa, kết trái. Trường Cấp Ba Đông Hà ngày ấy và nay là Trường Trung học phổ thông Đông Hà luôn luôn là trường có chất lượng cao của tỉnh và xứng đáng với niềm tin của nhân dân Quảng Trị.
 
Chúng tôi học khóa 4, giai đoạn từ năm 1976 đến 1979. Chúng tôi hội tụ về đây từ những miền quê khác nhau, đa số là học sinh nông thôn. Đây là thời kỳ miền Nam mới giải phóng, đất nước thống nhất, giang sơn quy về một mối. Vì vậy, con em Quảng Trị từ mọi miền của Tổ quốc đã trở về quê. Một số trong chúng tôi là trở về từ các tỉnh miền Bắc, hay miền Nam và những người ở lại vùng giải phóng Quảng Trị năm 1972.
Mặc dù, ban đầu có một vài cách biệt, sinh hoạt vui chơi và học tập theo nhóm miền Nam, miền Bắc, nông thôn và thị xã… nhưng với tinh thần hòa hợp, với một niềm vui chung là chiến thắng của dân tộc, chúng tôi đã nhanh chóng hòa đồng với nhau. Có lẽ cái vô tư, hồn nhiên, yêu đời của tuổi trẻ đã nhanh chóng xóa đi những khác biệt ban đầu.
Năm học 1976 – 1977, trường có hai hệ giáo dục khác nhau, đó là: hệ 10 năm và hệ 12 năm. Hệ 10 năm học theo chương trình giáo dục miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hệ 12 năm học theo chương trình phổ thông của Chính phủ Cộng hòa miền Nam việt Nam. Chương trình 12 năm được phân chia thành 3 ban, đó là: Ban A (Văn, Sử, Địa); Ban C (Toán, Lý, Hóa) và Ban D (Toán, Hóa, Sinh). Đã hơn 30 năm rồi mà chúng tôi vẫn nhớ như in cái cảm giác vui sướng pha chút tự hào khi được ôm một chồng sách mới, còn thơm mùi mực in được mượn từ thư viện nhà trường.
Những người thầy kính yêu
Bước chân vào trường, chúng tôi suy nghĩ, chắc thầy cô giáo cấp ba sẽ khác thầy cô cấp hai, bởi vì, họ là những người có trình độ cao và chắc là nghiêm khắc hơn. Tuy nhiên, khi được học, được tiếp xúc với thầy cô, chúng tôi mới nhận ra thầy cô cấp ba cũng không khác với thầy cô cấp hai, cũng giản dị, gần gủi, và thương yêu học trò. Hầu hết Thầy Cô là những người con Quảng Trị trở về từ miền Bắc, hay miền Nam, bên cạnh một số người quê Nghệ An, Nam Định, là giáo viên tình nguyện chi viện cho giáo dục miền Nam.
Ngày ấy, cuộc sống của thầy cô vô cùng cực khổ, chủ yếu trông chờ vào chế độ tem, phiếu; lương thấp, gạo thiếu, mỗi người chỉ được 13 kg gạo, mỗi tháng, mà có khi không đủ, phải thêm sắn và bo bo. Một điều mà sau này chúng tôi mới hiểu, hầu hết thầy cô đều được đào tạo ở trường đại học sư phạm 10+2 hoặc 10+3. Khi vào Nam lại tiếp cận với chương trình hoàn toàn mới, hệ 12 năm, chương trình cao hơn so với chương trình 10 năm ở miền Bắc. Qua một số công trình nghiên cứu khoa học về giáo dục ở vùng giải phóng miền Nam, cho thấy chương trình giáo dục phổ thông của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam hệ 12 năm, tương đương và đối trọng với chương trình giáo dục phổ thông 12 năm của chính quyền Sài gòn.
Ngành giáo dục giai đoạn ấy đâu có “dự án”, hay “chương trình” để tập huấn, bồi dưỡng như những lần đổi mới chương trình, sách giáo khoa gần đây. Tất cả đều dựa vào sự nỗ lực tự học và tự nghiên cứu của mỗi một người. Chúng tôi có dịp về thăm cô Phan Thị Thọ, một giáo viên Toán. Cô hỏi: “Hồi cô dạy về ánh xạ, song ánh, toàn ánh, mấy em có hiểu không? “Thưa cô, chúng em có hiểu nhưng không chắc lắm”, chúng tôi trả lời. Cô cho biết, sau mấy năm giảng dạy Toán lớp 10, cô mới hiểu sâu sắc những vấn đề mà cô đã dạy cho các em. Vậy đó, tất cả các môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, Sinh đều cao hơn chương trình hệ 10 năm. Không được tập huấn nhiều, lại thiếu thốn tài liệu và đời sống của giáo viên vô cùng khó khăn. Song, với lòng yêu nghề và trách nhiệm với học trò, tất cả thầy cô ngày đêm tự nghiên cứu, trao đổi với nhau, miệt mài với từng trang giáo án để có thể cho chúng tôi những bài giảng hay và sâu sắc.
 
Chúng tôi vẫn nhớ như in thầy Hiệu trưởng Lê Quang Vãn, với vầng trán cao, nghiêm khắc nhưng lại gần gủi với học trò. Thầy là người đề xướng truyền thống “Chăm học, chăm làm, cầu tiến bộ” của học sinh Cấp Ba Đông Hà. Những học sinh giỏi của trường được thầy tặng một tấm ảnh thầy chụp với Bác Hồ. Được học Toán với thầy Đinh Hữu Trạch, những học sinh như chúng tôi cảm thấy thích thú và yêu toán hơn, bởi những lập luận logíc, sáng sủa với những ví dụ gần gủi trong cuộc sống, đã làm cho chúng tôi hiểu được những khái niệm khó và trừu tượng của Toán học cao cấp như Tổ hợp, Nhóm, Vành, Trường... Chúng tôi nhớ mãi bài giảng của thầy về “Phép kéo theo”: “Đúng kéo theo Đúng là Đúng”; “Đúng kéo theo Sai là Sai”; “Sai kéo theo Đúng là Đúng” và “Sai kéo theo Sai là Đúng”. Những phép toán tưởng chừng khô khan ấy, đã theo chúng tôi suốt cuộc đời. Ở đây, chúng ta thấy, cái vế sau “Đúng” là vô cùng quan trọng. Mỗi lần vận dụng nó vào cuộc sống, chúng tôi nhớ lại bài giảng của thầy và càng thấy quý trọng hơn những bài học mà thầy đã dạy. Thầy giáo dạy văn Lê Ngọc Minh, đã có những bài giảng mà mãi sau này không chỉ khóa chúng tôi mà nhiều khóa khác vẫn còn nhớ và kể lại. Đó là những bài giảng về truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu. Lời giảng của thầy làm tôi nhớ mãi: “Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu lại là mảnh trăng toả sáng giữa cái không gian đạn bom chết chóc của cuộc kháng chiến ác liệt nhất, dữ dội nhất của dân tộc”; “Nguyễn Minh Châu đã nhìn thấy tình yêu lãng mạn mà cao cả của Nguyệt và Lãm giữa khung cảnh của sự hủy diệt. Đây chính là điều lý giải vì sao dân tộc ta lại chiến thắng một kẻ thù mạnh nhất, tàn bạo nhất”. Hoặc khi giảng về bài thơ “Quê hương” của Giang Nam, thầy nói, cái tài của nhà thơ là sử dụng động từ tâm lý “thương”, nói là “thương’ hoặc “thương thương” hay “thương quá”, người ta vẫn thấy bình thường, nhưng khi Giang Nam viết “thương thương quá đi thôi”, khi đó, mới lột tả được tình yêu thương tha thiết, cháy bỏng của người lính kháng chiến với người con gái quê nhà.
Cô Phan Thị Lương, giáo viên dạy Hóa, mặc dù chúng tôi chỉ được học với cô một năm thôi, nhưng những bài giảng và nhất là tình thương của cô đối với học trò còn mãi. Thầy Nguyễn Đăng Hậu với những bài giảng về “Hợp lực”, với quy tắc hình bình hành mà chúng tôi nhớ mãi khi vận dụng để kéo những ổ thép gai để lấy đất trồng sắn. Thầy Đỗ Trí Thức với những bài giảng tiếng Anh sôi nổi, tôi nhớ mãi câu trong bài hát mà thầy tập cho lớp “Oh the life, I love you”. Thầy Nguyễn Trọng Duân với các bài hát Nga như “Chiều Maxcơva”, “Tình Cachiusa”; thầy Hoàng Kim Cẩn với nhiều bài thơ viết về nghề, về trường và về những học sinh thân yêu của mình. Tôi nhớ mãi mấy câu thơ như nhắc nhở, như gửi gắm đến từng học sinh của thầy: “Ở xa kia, em nhỉ, có hoa hồng/ Hãy hái lấy nhưng nhớ nhiều gai đấy…”. Một điều mà học trò chúng tôi thấy thật lạ là thầy Thái Xuân Long, rất ít khi nói chuyện vui trên lớp, chủ yếu là giảng bài rồi “nạt và nạt” học trò, thế nhưng tất cả học sinh nhiều thế hệ đều rất quý trọng thầy, bởi tâm huyết của thầy dành cho học sinh, thầy luôn cho chúng tôi những bài toán hay, những lời giải đẹp. Có lẽ, thầy “nghiêm” để cho học trò mình giỏi hơn và “phải bước trên vai thầy mà đi” - như lời thầy thường nhắc nhở chúng tôi... Và nhiều, nhiều kỷ niệm nữa về thầy cô mà tôi không sao kể hết, mỗi người có những kỷ niệm riêng. Chúng tôi đều nhận được từ thầy cô rất nhiều, đó là những bài học làm người, sống tốt ở đời và biết vươn lên trong cuộc sống. V.A. XuKhômlinxki, một nhà Sư phạm Xô-viết đã từng nói “Cái bất hạnh nhất của người thầy giáo là đã đi qua mà không để lại gì cho học trò”. Theo nghĩa này, các thế hệ thầy cô giáo của Trường cấp Ba Đông Hà ngày ấy và Trường Trung học phổ thông Đông Hà ngày nay là những người hạnh phúc, bởi vì họ để lại rất nhiều cho học trò và cho cả cuộc đời này. Vậy đó, cái để lại cho học trò của thầy cô, đâu phải là công trình này, hay tác phẩm nọ, mà có khi chỉ là một câu chuyện, một bài học giản dị nào đó, nhưng chính những điều đó đã theo người học trò ra đồng ruộng, vào nhà máy, âm thầm miệt mài ở phòng thí nghiệm và trong chiến hào ác liệt của cuộc chiến…. Rồi trong một khoảnh khắc nhất định, tình yêu và sức sáng tạo của người học trò lại bùng cháy, để làm cho cuộc sống và thế giới được tốt đẹp hơn. Đó chính là cái vĩ đại, cái cao cả và thiêng liêng của người thầy. Mỗi người chúng ta có những cách khác nhau để vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống. Với tôi, một người làm công nghệ thông tin, có lần để giải quyết bài toán ráp phách cho các kỳ thi, tôi nhận thấy: giữa tập hợp học sinh dự thi và tập hợp mã phách cần phải xác lập một ánh xạ song ánh, và như vậy tôi lại nhớ đến bài giảng Toán của Cô Thọ, mà chúng tôi được học hồi lớp 10. Những bài giảng hay, sâu sắc của thầy cô sẽ đi vào tiềm thức của mỗi học trò và có thể theo họ suốt đời.
Những kỷ niệm không thể nào quên
Lứa tuổi chúng tôi là thế hệ học sinh trải qua những năm tháng chiến tranh, đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vào giai đoạn cam go nhất. Do đó, không một ai có thể học một trường tiểu học hay trung học mà dài quá 3 năm. Chính vì vậy, 3 năm học ở Cấp Ba Đông Hà là 3 năm trọn vẹn nhất của lứa học sinh chúng tôi. Đây là điều lý giả vì sao cựu học sinh khóa 76 – 79 lại đoàn kết, gắn bó với nhau, giúp nhau trong cuộc sống và duy trì gặp mặt khóa hằng năm từ ngày lập lại tỉnh Quảng Trị đến nay.
Khóa chúng tôi hồi ấy được trường chia thành 5 lớp: một lớp ban Văn chương 2 lớp Toán Lý và 2 lớp Hóa Sinh. Chúng tôi nhận thấy việc phân ban hối đó rất nhẹ nhàng, phù hợp với năng lực của từng học sinh, do đó, học ban nào cũng có thể thành công. Khóa chúng tôi, người được coi là thành công trên công đường học vấn, đó là Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn, là một học sinh Văn chương.
Ngoài học tập trên lớp vào buổi sáng, một tuần, chúng tôi có thêm 2 buổi lao động buổi chiều. Mọi người đều hăng hái kéo thép gai, đào hào, cắt bổi làm phân xanh để trồng sắn, trồng khoai. Đất ở đồi cao, khô cằn sỏi đá vậy, nhưng nó không phụ lòng người, chỉ vài tháng sau là khoai, sắn đều tốt tươi và cho chúng tôi những vụ mùa bội thu. Đúng như lời bài bài hát của Nguyễn Anh Thái: “Ngày xưa nơi đây đầy quân thù, bao nhiêu ụ pháo thép gai với mìn bom. Nay đã tốt tươi những luống mì, khoai,…”. Cảm ơn Thái đã nói hộ chúng tôi về niềm vui và tự hào với thành quả lao động của chính mình.
Ba năm học ở trường là 3 năm trường đều tổ chức cắm trại, năm đầu tiêm cắm trại ở sân bóng gần đường 9B. Năm thứ hai cắm trại tại sân 75 (KM3 Đường 9) và năm cuối khóa cắm trại tại trường. Mỗi lần cắm trại là một dấu ấn riêng. Cắm trại tại sân 75, với sự kiện nhớ nhất là một số bạn nam bơi qua sông Hiếu bị cờ đỏ trường bắt được. Dịp 26 tháng 3 năm 1979, cắm trại tại trường trong không khí sục sôi của cuộc chiến bảo vệ tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Dòng máu nóng của Lê Đình Chinh, tiếp thêm ý chí cho mỗi người, nhiều bạn trong chúng tôi đã trở thành chiến sĩ chiến đấu bảo vệ biên cương của Tổ quốc.
Nhiều hoạt động văn nghệ, báo chí, tổ chức các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn. Khóa chúg tôi sau này có bốn cặp nên vợ, nên chồng, thế nhưng đa số chúng tôi hồi ấy đều hồn nhiên, vô tư, có khi chỉ là thương thầm, nhớ trộm một ánh mắt hay nụ cười nào đó. Vui, hấp dẫn và hồi hộp nhất là những buổi bình báo tường của thầy Lê Ngọc Minh. Ngày 20-11 hằng năm, tất cả các lớp đều có báo tường. Lớp chúng tôi, mặc dù là ban Toán Lý, song có nhiều bạn chữ đẹp, thơ văn hay nên hầu hết các năm, tờ báo của lớp tôi đều được xếp là tờ báo đẹp và nội dung phong phú nhất khối. Văn, thơ chúng tôi đâu phải cao siêu gì, chỉ là những lời lẽ mộc mạc, bình dị nhưng mỗi lần được thầy nhắc tới là cảm thấy sung sướng. Tôi còn nhớ dịp 20 tháng 11 năm 1978, tôi đã viết bài thơ để tặng thầy Lê Quang Vãn, khi thầy chuyển công tác vào Huế, trong đó, có mấy câu sau:
 Trời mưa đã tạnh lòng sao lạnh.
Tất cả ta đi tiễn đưa thầy.
Thầy đi để lại tình thương mến.
Mai mốt ta đi để lại gì?”.
Mấy lời nói mộc mạc, từ đáy lòng mình vậy thôi mà thầy Minh cho là mang âm hưởng “Tống biệt hành” của Thâm Tâm.
Nhiều bạn trong lớp chúng tôi mê văn và thích đọc sách. Lúc bấy giờ, ngoài dòng văn học Việt Nam, văn học Nga – Xô viết với những tác phẩm lớn như “Thép đã tôi thế đấy của Nikolai A.Ostrovsky, “Kiếm sống” của Macxim Gorki, chúng tôi bắt đầu đọc “Mối tình đầu” của Lev Tolstoi, rồi “Muối của đất” của G.Markov... Ngoài ra, chúng tôi được đọc sách dịch của các nhà xuất bản miền Nam trước đây như “Giả từ vũ khí” của Ernest Hemingway, “Cuốn theo chiều gió” của Margaret Mitchell; một số bạn lại thích đọc truyện như “Tam Quốc chí diễn nghĩa” hay “Thủy hử” của văn học Trung Quốc.
Về thơ, ngoài những bài thơ hay trong dòng văn học cách mạng như “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ, “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm, “Biển” của Xuân Diệu…, chúng tôi bắt đầu chép cho nhau một số thơ tình “tiền chiến” như “Màu Tím hoa sim” của Hữu Loan, hay “Hai sắc Ti gôn” của T.T.Kh…Có thể thấy rằng, học sinh thời nào cũng vậy, thích đọc và thích khám phá những điều ẩn chứa sau từng con chữ của các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong kho tàng tri thức của nhân loại. Và cũng nhờ cách tiếp cận mới này nên Đại hội học tập lớp 12C năm học 1978 – 1979 đã lấy câu nói: “Tương lai là của những người đêm đêm cặm cụi dưới ánh đèn” của nhà văn Pháp Émile Zolađể làm khẩu hiệu.
Dự cảm tương lai
Trở về thăm trường, chúng tôi càng thấy tự hào khi ngôi trường mấy dãy nhà tôn ngày xưa được thay bằng ngôi trường khang trang, bề thế, 3 dãy nhà cao tầng, với đầy đủ phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, phòng máy vi tính có hàng trăm máy được kết nối Internet tốc độ cao, thư viện khang trang, phong phú hơn nhiều….Mấy hàng cây xà cừ mà ngày xưa chúng tôi trồng nay đã trở thành những cây cổ thụ, tỏa bóng mát cho bao thế hệ học trò của trường. Nhiều thế hệ học sinh đã ra trường đi khắp nơi của tổ quốc, họ làm ăn, sinh sống và có nhiều đóng góp cho xã hội. Thế hệ học sinh sau, là con, em của các thế hệ trước, tiếp nối và viết thêm những trang sử truyền thống của Nhà trường. Thầy cô ngày xưa nay đã về hưu và có người đã đi xa. Đội ngũ thầy cô của Trường ngày nay hùng hậu, có trình độ và tay nghề cao, một lòng vì học sinh thân yêu.
 
Bước vào giai đoạn mới, với công cuộc “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục” của Đảng và Nhà nước ta, Trường Trung học Phổ thông Đông Hà đang đứng trước thời cơ và thách thức mới. Đó là: Thứ nhất, làm thế nào để phát triển con người toàn diện. Toàn diện ở đây không chỉ bó hẹp trong 4 yếu tố là đức, trí, thể, mỹ, mà toàn diện chính là giúp học sinh trưởng thành phát triển đồng đều cả 7 yếu tố: đức, trí, thể, mỹ, nghề nghiệp, tình cảm và xã hội; Thứ hai, nhà trường phải hướng đến cá biệt hóa giáo dục, tức là: phát hiện sự khác biệt nơi học sinh, đáp ứng sự khác biệt đó, đồng thời phát huy cao nhất năng lực và sở thích của từng học sinh; Thứ ba,ứng dụng hóa giáo dục, giảm tính chất từ chương, lý thuyết; tăng cường tính thực dụng, tăng cường thực hành và gắn kiến thức đã học với thực tiễn cuộc sống; Thứ tư, dân chủ hóa giáo dục, Nhà nước ta đang từng bước xây dựng một xã hội dân chủ, tuy nhiên, để xây dựng được một xã hội dân chủ không phải một sớm một chiều, mà phải có một quá trình, trong đó, trường học phải là một xã hội dân chủ thu nhỏ; và Thứ năm  quốc tế hóa giáo dục. Thế giới đã có nhiều thay đổi, xu hướng toàn cầu hóa và phát triển bền vững dựa trên nền kinh tế tri thức. Nhiều giá trị của loài người được xác lập, những định hướng như: “Học để biết, để làm, để chung sống và tự hoàn thiện mình” của Liên Hiệp quốc cho giáo dục ở thế kỷ XXI, không chỉ có ý nghĩa ở tầm vĩ mô, mà ngay cả từng trường học, mỗi thầy cô và mỗi một học sinh.
Với thành tích và bề dày truyền thống 40 năm qua, là những học sinh cũ của trường, chúng tôi tin tưởng và chúc cho Trường Trung học phổ thông Đông Hà mãi xứng đáng là trường chất lượng cao, góp phần đào tạo nhân tài cho quê hương, đất nước.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2013
Các tin khác
Tản mạn về trường (- Ngày cập nhật: 30/10/2015)
Cảm nghĩ về một mái trường nơi tôi đến (- Ngày cập nhật: 30/10/2015)
Mái trường mến yêu (- Ngày cập nhật: 30/10/2015)
Thanh niên với mái trường (- Ngày cập nhật: 30/10/2015)
Tuổi trẻ Trường THPT Đông hà (- Ngày cập nhật: 30/10/2015)

Video

  • Quảng trị

    Quảng Trị yêu thương

    Xem tiếp >>
  • QUỸ TUỔI TRẺ SÁNG TẠO KHKT

    Cá nhân/Tập thể: Lê Hồng Dũng

    Lớp:I

    Khóa: 1998 - 2001

    Ủng hộ: 2 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh

    Lớp:G

    Khóa: 1992-1995

    Ủng hộ: 5 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh

    Lớp:T

    Khóa: 1992-1995

    Ủng hộ: 3 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh

    Lớp:A1

    Khóa: 1997-2000

    Ủng hộ: 3 triệu đồng


    CỰU HỌC SINH ỦNG HỘ NHÀ TRƯỜNG

    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp C1

    Khóa: 1994-1997

    Ủng hộ: Ủng hộ 3 triệu


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp I

    Khóa: 1999-2002

    Ủng hộ: Ủng hộ 1 triệu


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp A2

    Khóa: 1994-1997

    Ủng hộ: Ủng hộ 5 triệu


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp A1

    Khóa: 1994-1997

    Ủng hộ: Ủng hộ 5 triệu


    Cá nhân/Tập thể: Nguyễn Thanh Long

    Khóa: 1994-1997

    Ủng hộ: Ủng hộ 2,5 triệu


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp D

    Khóa: 1991-1994

    Ủng hộ: Ủng hộ 10 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp C

    Khóa: 1998-2001

    Ủng hộ: Ủng hộ 5 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp K

    Khóa: 1998-2001

    Ủng hộ: Ủng hộ 2,5 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp H

    Khóa: 1993-1996

    Ủng hộ: Ủng hộ 5 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp G

    Khóa: 1993-1996

    Ủng hộ: Ủng hộ 5 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp E

    Khóa: 1993-1996

    Ủng hộ: Ủng hộ 5 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp C

    Khóa: 1993-1996

    Ủng hộ: Ủng hộ 1 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Hồ Sỹ Trị - Lớp D

    Khóa: 1983 - 1986

    Ủng hộ: Ủng hộ 3 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể cựu học sinh ở Chi cục Hải quan Quảng Trị

    Khóa: Nhiều khóa

    Ủng hộ: Ủng hộ 10 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp A1

    Khóa: 2014-2017

    Ủng hộ: Ủng hộ 10 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Hồ Thị Thuý Nhi - Lớp I

    Khóa: 1999-2002

    Ủng hộ: Ủng hộ 10 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Nguyễn Thị Kim Thoa – Lớp I

    Khóa: 2001-2004

    Ủng hộ: Ủng hộ 3 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Đinh Bảo Châu – Lớp B2

    Khóa: 1991-1994

    Ủng hộ: Ủng hộ 1 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Lê Hồng Dũng – Lớp I

    Khóa: 1998-2001

    Ủng hộ: Ủng hộ 10 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Phạm Bằng Giang – Lớp B

    Khóa: 1993-1996

    Ủng hộ: Ủng hộ 10 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp A

    Khóa: 2000-2003

    Ủng hộ: Ủng hộ 10 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp C

    Khóa: 1999-2002

    Ủng hộ: Ủng hộ 10 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Tập thể học sinh lớp B

    Khóa: 1998-2001

    Ủng hộ: Ủng hộ 10 triệu đồng


    Cá nhân/Tập thể: Đinh Xuân Nam

    Khóa: 1991-1994

    Ủng hộ: Công ty cổ phần Tân Hiếu – Số D29 Ngô Thì Nhậm – Hà Đông – Hà Nội: 54 triệu đồng


    LIÊN KẾT HỮU ÍCH

    THỜI TIẾT - TỶ GIÁ